PHÂN TÍCH CƠ BẢN VÀ CÁCH TIẾP CẬN

Trong đầu tư chứng khoán có 2 trường phái được các nhà đầu tư áp dụng là Phân tích cơ bản (gọi tắt là FA)Phân tích kỹ thuật (gọi tắt là TA). Trong bài viết này, CHUNGKHOANVIETNAM sẽ đưa ra cách tiếp cận với phân tích cơ bản nhằm giúp các nhà đầu tư nắm bắt một cách tổng quan về nó.

1. Phân tích cơ bản là gì?

Phân tích cơ bản là một kỹ thuật để xác định giá trị thực chứng khoán bằng cách tập trung vào các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp. Trên phạm vi rộng hơn, bạn có thể thực hiện phân tích cơ bản về ngành hoặc nền kinh tế nói chung.

Phân tích cơ bản là công cụ  để giúp bạn trả lời câu hỏi:

  • Doanh thu của công ty có tăng lên không?
  • Doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận bằng cách nào?
  • Lợi thế cạnh trah của doanh nghiệp là gì?
  • Liệu DN có khả năng trả nợ không?
  • Doanh nghiệp có đang xào nấu số liệu?…

Tất nhiên có nhiều câu hỏi khác nữa, nhưng quy về câu hỏi mấu chốt: “Cổ phiếu của công ty có phải  là thương vụ đầu tư tốt không?

2. Nguyên tắc, hướng tiếp cận của phân tích cơ bản

 Phân tích cơ bản liên quan đến các nhân tố  tài chính, kinh doanh, triển vọng doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, nợ, thị phần, chất lượng quản lý…)

Các yếu tố cơ bản có thể  phân thành hai loại: định lượng và định tính

Định lượng: Có thể đo lường được, yếu tố này được thể hiện bằng con số cụ thể, nguồn dữ liệu định lượng lớn nhất là các báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính)

Định tính: Không đo lường được cụ thể, mà hoàn toàn dựa vào chất lượng hoặc tính chất của doanh nghiệp (chất lượng quản trị, thương hiệu, lợi thế cạnh tranh…)

3. Định lượng kết hợp với định tính

Thông thường khi phân tích doanh nghiệp có cả phân tích định lượng và phân tích định tính.

Ví dụ: Cổ phiếu Vingroup (VIC). Khi đánh giá cổ phiếu, một nhà đầu tư có thể xem xét tỷ lệ cổ tức, EPS, P/E và nhiều yếu tố định lượng khác.Tuy nhiên, phân tích cổ phiếu VIC thì phải nói đến thương hiệu của Vingroup nữa. Bất cứ công ty nào cũng có thể xây nhà, xây chung cư, dự án, nhưng chỉ có rất ít công ty được công nhận bởi hàng triệu người Việt Nam.

4. Giá trị thực (nội tại) là gì?

Một trong những giả định chính của phân tích cơ bản là giá trên thị trường chứng khoán không phản ánh đầy đủ giá trị thực  của cổ phiếu.

Ví dụ: Giả sử rằng cổ phiếu của công ty được giao dịch ở mức 20.000 đồng. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, nhà đầu tư xác định giá trị xứng đáng (giá trị thực) của nó là 30.000 đồng. Khi đó nhà đầu tư sẽ tiến hành mua vào cổ phiếu vì giá giao dịch thấp hơn đáng kể so với giá trị thực và chờ đợi đến khi cổ phiếu tiệm cận giá trị thực này để bán ra.

Điều này dẫn chúng ta đến một trong những giả định chính thứ hai của phân tích cơ bản: trong ngắn hạn giá cổ phiếu có thể chệch đáng kể khỏi giá trị hợp lý nhưng trong lâu dài chúng đồng hành với nhau. Không ai biết bao lâu là “lâu dài” thực sự ,có thể là vài ngày hoặc vài năm.

Hai vấn đề của phân tích cơ bản:

Bạn không biết ước tính giá trị nội tại của bạn có chính xác hay không?

Bạn không biết mất bao lâu giá cổ phiếu mới về đúng giá trị nội tại?

5.Ưu điểm của phân tích cơ bản

  • Ít căng thẳng, tâm trí thỏa mái, tối ưu hóa được thời gian.
  • Có thể quản lý được với số tiền lớn hoặc rất lớn.

 6. Các chỉ trích về phân tích cơ bản

  • Nhà phân tích kỹ thuật chỉ trích về phân tích cơ bản về việc không tối ưu   được thời gian mua và nắm giữ cổ phiếu nhằm tăng lợi nhuận. Tất nhiên cũng có NĐT có thể kết hợp 2 phương pháp phân tích này với nhau.
  • Thuyết thị trường hiệu quả cho rằng phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật cũng chẳng có ích gì, và không thể vượt trội được thị trường.

—————————-

Lý Minh Hoàng _Chuyên viên tư vấn chứng khoán cấp cao

Số điện thoại: 098 151 8532

Email: chungkhoanvietnam.net@gmail.com

Webside:chungkhoanvietnam.net

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *